T̀M HIỂU LỊCH
SỬ CÁI CHẾT CỦA NHÀ ÁI QUỐC TẠ THU THÂU
Tấn Đức
Tạ Thu Thâu là một nhà yêu
nước, một nhà cách mạng vĩ đại
Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhưng, tên tuổi
của ông, dù gắn liền với cuộc đấu
tranh chống thực dân Pháp trong hai thập niên 30 và 40,
lại ít được giới trẻ Việt Nam
biết đến, nhất là những người sinh ra
và trưởng thành ở miền Bắc “xă hội chủ
nghĩa”. Sử đảng[1] và các văn kiện
chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam
chỉ nhắc đến ông và các đồng chí của
ông bằng những lời lẽ bỉ thử, miệt
thị và tồi tệ, như “tay sai cho đế quốc
Pháp”, “mật thám cho phát-xít Nhật”...
Vậy,
sẽ không vô ích nếu chúng ta điểm qua đôi nét
về cuộc đời sáng lạn và cái chết bi
thảm của một nhà cách mạng ưu tú, đă
từng được “Ủy ban nước Pháp của
kiều dân, nước Pháp của tự do” (France Des
Immigrés, France Des Libertés) chọn để đăng
ảnh và tiểu sử trên một bức tường
lớn trong mộtcuộc triển lăm long trọng ở
Ṿm trời hữu nghị (Arche De La Fraternité) tại khu La
Défense (Paris) nhân kỷ niệm 200 năm Đại cách
mạng Pháp vào năm 1989[2].
Tiểu
sử giản yếu của Tạ Thu Thâu
Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu sinh năm
ngày 5-5-1906 tại Tân B́nh (Long Xuyên), là con thứ tư trong
một gia đ́nh đông con và nghèo khó. Từ năm 11
tuổi, sau khi thân mẫu qua đời, ông đă vừa
học vừa phụ việc cho cha để nuôi sáu
miệng ăn. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông
dạy học ở Sài G̣n và tham gia những tổ nhóm thanh
niên yêu nước, trong đó có đảng Annam trẻ
(Jeune Annam) năm 1925, sau này bị chính phủ thực dân
giải tán. Tạ Thu Thâu coi giai đoạn này trong
đời ông là “giấc mộng liều mạng của
tuổi trẻ”.
Năm
1926, Tạ Thu Thâu tham gia nhiều cuộc biểu t́nh
phản đối chính phủ Pháp, đ̣i các quyền
tự do, dân chủ cho dân Việt. Qua Pháp tháng 7-1927 khi
mới 21 tuổi, theo học ban Khoa học (Đại
học Paris), ông gia nhập đảng Việt Nam Độc
lập (PAI) của nhà yêu nước Nguyễn Thế
Truyền và đảm nhiệm điều khiển
đảng này năm 1928 sau khi Nguyễn Thế Truyền
về nước. Năm 1929, sau một thời gian
hoạt động tích cực chống thực dân trên
lập trường một người quốc gia, ông
tiếp xúc với Tả đối lập Pháp và
được Alfred Rosmer - một người bạn,
người đồng chí, học tṛ của Trotsky -
giới thiệu vào tổ chức này. Từ đó trở
đi, ông trở thành lănh tụ trốt-kít Việt Nam
đầu tiên, cùng các đồng chí của ông là Huỳnh
Văn Phương và Phan Văn Chánh.
Ngày
20-5-1930, Tạ Thu Thâu cùng một số kiều dân Việt
ở Pháp tham gia cuộc biểu t́nh trước
điện Elysée (dinh Tổng thống Pháp), phản
đối việc thực dân Pháp xử tử các chiến
sĩ yêu nước Việt Nam Quốc dân đảng
ở Yên Bái. Sau đó, ông bị bắt cùng 18 Việt
kiều khác và bị trục xuất về Việt Nam vào
cuối tháng 5.
Trong
ṿng 15 năm kể từ khi về nước đến
khi bị ám hại vào năm 1945, Tạ Thu Thâu là một
lănh tụ ái quốc lừng danh ở Việt Nam. Là
người tổ chức và lănh đạo phong trào Tả
đối lập trốt-kít, sau đổi thành Đông
Dương Cộng sản đảng, ông hoạt
động cách mạng bằng mọi phương
tiện như xuất bản tờ Vô sản (tháng 5-1932),
làm báo Pháp ngữ La Lutte (Tranh đấu; tháng 4-1933), ứng
cử Hội đồng thành phố Sài G̣n (tháng 5-1933, tranh
cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, tháng
4-1938)... Từ năm 1932 đến 1940, Tạ Thu Thâu
bị bắt 6 lần và bị kết án 5 lần, tổng
cộng 13 năm tù và 10 năm biệt xứ.
Cuối
năm 1944, sau khi được phóng thích từ Côn
Đảo, ông dự định thành lập đảng Xă
hội Thợ thuyền. Ư định ấy đă không
thành v́ đầu tháng 9-1945, trên đường về Nam
sau khi đă bắt liên lạc với một số
đồng chí ở Bắc Bộ nhằm xuất bản
tờ Chiến đấu, cơ quan ngôn luận của
đảng Xă hội Thợ thuyền miền Bắc, ông
bị Việt Minh đón đường và sát hại trên
một cánh đồng dương liễu bên bờ
biển Mỹ Khê (tỉnh Quảng Ngăi) khi mới 39
tuổi.
Chẳng
những là một nhà cách mạng kiên cường, Tạ
Thu Thâu c̣n là một cây bút sắc bén (ông có tài viết
Việt văn cũng như Pháp văn), một diễn
giả xuất sắc, một trí thức có uy tín, tính t́nh
ôn ḥa, nhă nhặn. Những người từng biết ông,
sau này đều nhắc đến ông với lời
lẽ kính trọng. Tên ông đă được đặt
cho một con đường ở gần chợ Bến
Thành, Sài G̣n: 10 năm sau ngày “giải phóng miền Nam”, con
đường ấy mới bị đổi tên.
Ai
là người đă ra lệnh ám sát Tạ Thu Thâu?
Có
thể không bao giờ chúng ta có lời giải đáp chính
xác cho câu hỏi này. Một chỉ thị như thế, dù
có tồn tại trên văn bản, chắc chắn cũng
đă bị thiêu hủy. Trên phương diện này,
“người anh lớn” Liên Xô đă đặt ra một
tiền lệ đáng “noi theo” cho tất cả các “chư
hầu” khác trong khối “xă hội chủ nghĩa”: ngay
từ năm 1920 (tức là khi Lenin c̣n sống và c̣n tỉnh
táo), đă có một chỉ thị được chuẩn
y nhằm cấm ngặt việc “đưa những
nghị quyết trong các vấn đề quan trọng
nhất của Bộ Chính trị vào biên bản chính
thức [của các phiên họp Bộ Chính trị]”. Trong
những năm về sau, đảng Cộng sản Liên Xô
đă đưa ra hàng loạt chỉ thị, nghị
quyết để “mật hóa” hoặc dấu tịt
bằng chứng về những tội lỗi tầy trời
của họ trước giới sử học và
trước đời sau[3].
Nên
nhớ rằng đảng Cộng sản Liên Xô đưa
ra quyết định trên vào năm 1920, tức là khi
nước Nga Xô-viết đă thoát khỏi t́nh thế
hiểm nghèo do cuộc can thiệp của các nước
“tư bản” và sự chống đối của các
lực lượng Bạch vệ trong nước gây ra.
Ở Việt Nam, vào nửa cuối năm 1945, khi chính
quyền Việt Minh c̣n đang trong cảnh “trứng
nước” và khi những người trốt-kít yêu
nước bị coi là “tay sai đế quốc”, “tay sai
cho phát-xít quốc tế”..., phải “triệt ngay” và
“trừng trị đích đáng”, th́ quyết định ám
sát Tạ Thu Thâu và các lănh tụ trốt-kít khác hẳn
phải được coi là một “nghị quyết quan
trọng” và đáng để “mật hóa” trước
hậu thế. Mà cách “mật hóa” hữu hiệu nhất,
là phi tang, là xóa bỏ mọi chứng từ giấy
tờ, là thủ tiêu mọi nhân chứng, thậm chí
thủ phạm, trong chừng mực có thể.
Phục
hồi lịch sử sau ngần ấy năm, nhất là
lịch sử của một thời kỳ vô cùng rối
rắm và phức tạp như những năm 1945-1946,
không phải là chuyện dễ. Nhiều khi, chúng ta chỉ
có thể dựa vào những nguồn tin “truyền
khẩu” theo lời thuật lại của dân chúng.
Những “nhân chứng” thời ấy, nếu có, giờ
đây cũng đều trên ngưỡng “thất
thập”. Họ có thể nhớ lại và thuật lại
một cách chính xác những ǵ đă xảy ra không?
Dưới tác động của t́nh h́nh chính trị ở
Việt Nam, những thông tin họ đưa ra cóthể coi
là xác tín đến mức nào? Đó là những câu hỏi
và những nghi ngờ thường lệ mà chúng ta phải
đặt ra trước vấn đề cái chết
của Tạ Thu Thâu, cũng như bất cứ một
“nghi án” lịch sử nào, được coi là “vết
trắng” trong lịch sử Việt Nam cận đại
và đương đại. Đảng Cộng sản
Việt Nam, trong các văn kiện chính thức, đều
cho rằng việc triệt hạ các chiến sĩ yêu
nước trốt-kít là một “thắng lợi lớn”
của đảng. Nhưng, trong khi không tiếc lời
xuyên tạc và phỉ báng hoạt động ái quốc
của các tổ chức trốt-kít, dường như
không bao giờ họ đả động đến
việc “thắng lợi lớn” ấy đă
được thực hiện trong thực tế như
thế nào. Một bài báo mang tính tổng kết những
“thắng lợi oanh liệt” trong năm 1945 của
đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đàn
áp và tiêu diệt các tổ chức trốt-kít, cũng
chỉ nói rất chung chung: “Báo chí của ta đă nghiêm
khắc lên án bọn trốt-kít. Nhân dân ta đă vạch
trần bộ mặt phản động của chúng, chính
quyền nhân dân đă trừng trị đích đáng
bọn trốt-kít... Cách mạng tháng Tám năm 1945 đă
cuốn đi số lớn phần tử trốt-kít
thối nát”[4]. Không hề có một chữ về
những chủ nhân của “thắng lợi oanh liệt”
đó!
Lần
theo dấu sự thật, sử gia Daniel Hémery, một
cựu đảng viên cộng sản Pháp, là người
có những cố gắng lớn trong việc tái tạo
sự thật về cái chết của Tạ Thu Thâu và các
đồng chí của ông. Là một nhà nghiên cứu sử
chuyên về đề tài Việt Nam, ông đă viết
rất nhiều sách vở về lịch sử Việt
Nam; luận án tiến sĩ của ông cũng lấy
đề tài về Tạ Thu Thâu và nhóm trốt-kít ở
Việt Nam. Tuy nhiên, do gặp nhiều trở ngại
về tư liệu và bằng chứng cụ thể
(nhất là sự giấu diếm của đảng
Cộng sản Việt Nam), trong những năm của
thập kỷ 70, ông mới có thể đưa ra các
“giả thuyết” và suy luận xem “giả thuyết” nào
hợp lư hơn cả. Trong số các tư liệu
Việt ngữ, phải đặc biệt nhấn
mạnh những t́m ṭi của nhóm trốt-kít Việt Nam
tại Pháp, dựa trên các sự kiện mới, các văn
bản mới được phanh phui, “bạch hóa”,
dựa trên lời thuật lại của một số
người trốt-kít cựu trào c̣n sống sót. Những
t́m ṭi ấy được ông Hoàng Khoa Khôi, người
đứng đầu nhóm, tổng kết lại trong bài viết
Ai đă ám sát Tạ Thu Thâu và những người
trốt-kít Việt Nam? đăng trên Hồ sơ
về phong trào Đệ tứ Việt Nam[5].
Trong
bài viết này, ông Hoàng Khoa Khôi đă lần lượt
điểm qua ba “giả thuyết” của sử gia Daniel
Hémery về người chủ mưu ám sát Tạ Thu Thâu:
1.
Tướng Nguyễn B́nh, chỉ huy quân đội
miền Nam.
2.
Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai, hai lănh tụ
công khai của đảng Cộng sản Việt Nam ở
Sài G̣n, đồng thời là những người xta-lin-nít
khét tiếng[6].
3.
Chính ông Hồ Chí Minh, lănh tụ tối cao của
đảng[7].
Với
những lập luận và bằng cớ sắc sảo và
đầy tính thuyết phục, tác giả bài viết
loại trừ hai khả năng đầu và thiên về
khả năng thứ ba v́ theo ông, chính ông Hồ Chí Minh là
“người cha tinh thần” của tất cả những
cuộc thanh trừng, khủng bố các tổ chức
trốt-kít Việt Nam, kể từ khi ông c̣n lưu lạc
ở nước ngoài và hoạt động dưới
sự điều khiển của Đệ tam Quốc
tế. Chúng ta cũng được biết rằng sáu
năm trước khi Việt Minh tổ chức vụ
đại thảm sát toàn bộ các chiến sĩ
trốt-kít yêu nước, sáu năm trước khi bài Phải
triệt ngay bọn trốt-kít![8]
được đưa ra chính thức trên tờ Cờ
giải phóng của đảng Cộng sản Việt Nam
như một lời hô hào chém giết khát máu, th́ ông Hồ
Chí Minh, ở nước ngoài, đă dùng những lời
lẽ hết sức kích động để kêu gọi
“tiêu diệt” những người trốt-kít, “tay sai của
phát-xít”, “bất lương”, “chó săn”, “bán rẻ tổ
quốc”...
Như
thế, ông Hồ Chí Minh và những người nối
nghiệp ông sẽ phải trả lời ra sao khi trong
một cuộc hội kiến diễn ra vào năm 1946[9]
với nhà văn Pháp Daniel Guérin, người bạn và
đồng chí cũ của Tạ Thu Thâu trong Tả
đối lập Pháp, ông đă tuyên bố: “Tạ Thu Thâu
là người yêu nước tầm cỡ lớn. Tôi khóc
cái chết của ông ấy” (Tạ Thu Thâu était un grand
patriote, nous le pleurons)? Nhưng ngay sau đó, ông Hồ Chí Minh
đă bồi thêm: “Nhưng tất cả những ai không
đi theo đường lối do tôi vạch ra sẽ
đều bị bẻ gẫy”[10].
Có
thể hiểu câu nói thứ hai này - mà ông Trần Văn
Giàu, trong một cuộc nói chuyện ở Paris mùa hè năm
1989, đă cho là không đúng sự thật - là một
lời thú nhận thành thực về trách nhiệm của
ông Hồ Chí Minh về cái chết của Tạ Thu Thâu[11]?
Vụ
ám sát Tạ Thu Thâu đă được diễn ra như
thế nào?
Ông
Hoàng Khoa Khôi, trong bài báo nói trên, đă có một nhận
định xác đáng: “... người cầm dao hay nổ
súng chỉ là người thừa hành, không phải thủ
phạm chính. Thủ phạm chính phải t́m trong đám
người lănh đạo đảng Cộng sản
Việt Nam, kể cả Hồ Chí Minh. [...] Thủ phạm
chính là kẻ đă mài dao, lắp đạn cho đao
thủ phủ”.
Tuy
nhiên, để lịch sử được rạch ṛi,
cũng nên t́m hiểu hoàn cảnh Tạ Thu Thâu bị sát
hại và “vạch mặt chỉ tên” cả những kẻ
đao phủ trực tiếp này.
Trong
vấn đề này, nguồn tư liệu mà chúng tôi
hiện có cũng hết sức hạn chế. Sau khi
đặt câu hỏi “ở Việt Nam, ai đă hạ sát
Tạ Thu Thâu và các đồng chí [của ông]?”, ông Hoàng Khoa
Khôi cho biết: “Sau khi điều tra, chúng tôi biết
được ba thủ phạm. Họ đều là
những người cộng sản. Người thứ
nhất là Kiều Đắc Thắng, trách nhiệm
Nghiệp đoàn. Người thứ hai là Nguyễn Văn
Trấn, đă từng được đi học tập
ở Moscow. Người thứ ba tên là Nguyễn Văn Tây,
cựu bộ trưởng chính phủ Trần Văn Giàu”.
Cần nói thêm rằng nhân vật Nguyễn Văn Trấn
được nhắc đến ở đây chính là ông
Nguyễn Văn Trấn đă mất ít lâu nay, một
người cộng sản “phản tỉnh”, tác giả
cuốn Viết cho Mẹ và Quốc hội
được nhiều người ưa thích trong đó
ông vẫn dùng nhiều từ ngữ và luận điệu
thô thiển, thậm chí bất nhă, khi nhắc đến
Tạ Thu Thâu và những người yêu nước
trốt-kít ở Việt Nam.
Trong
cuốn sách Việt Nam 1920 - 1945 (Cách mạng và phản cách
mạng dưới thời thuộc địa[12])
của ông Ngô Văn, một người trốt-kít cựu
trào, từng là đồng chí của Tạ Thu Thâu ở
Việt Nam, tác giả cũng chỉ viết một cách
rất sơ lược: “... Thâu lên đường
trở về Nam. [...] Dân chúng kể lại khác nhau về
những ǵ xảy ra sau đó. Chúng ta không biết đích
xác nơi Thâu bị bắt, nhưng mọi người
đều nói là ở Quảng Ngăi và gán cho Việt Minh
chịu trách nhiệm. Họ cũng nói về sự nghi
ngại của các vệ quân được lệnh
bắn [Tạ Thu Thâu], khi nghe anh tự bảo vệ trong
một vụ gọi là xét xử: anh đă biện minh
về cuộc đời cách mạng của ḿnh. Lệnh
hô bắn ba lần, cả ba lần các tay súng đều
hạ xuống, lúc đó viên “thẩm phán” đă kết thúc
bằng một phát súng lục vào lưng (người
hạ sát tên là Tư Ty). Đó là vào một ngày đầu
tháng Chín năm 1945”[13]. Tác giả Trần
Ngươn Phiêu trong bài viết Những nhân chứng
cuối cùng cho biết thêm “... ông [Tạ Thu Thâu] bị
bắt khi đi ngang qua Quảng Ngăi ngày 18 tháng Tám năm
1945, bị giam ở đ́nh Xuân Phổ và sau đó bị
giết ở cánh đồng Dương, bờ biển
Mỹ Khê”.
Trong
số những tư liệu trong tay chúng tôi, riêng chỉ có
bài báo nhan đề Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết
của một người kư tên là Nguyễn Văn
Thiệt, đăng trên tờ tuần báo Hồn
nước của “Tập đoàn công binh Việt Nam”
(Rassemblement des travailleurs vietnamiens) vùng Paris trong hai số 7
(ngày 30-7) và số 8 (ngày 7-8) năm 1949, là thuật lại
một cách chi tiết và kỹ lưỡng về cái
chết của Tạ Thu Thâu. Bài báo này đă
được đăng lại trong công tŕnh sử
học Người Việt ở Pháp 1940 - 1954[14]
của ông Đặng Văn Long, một người
trốt-kít cựu trào sống ở Pháp. Trong một số
cuộc điện đàm với tác giả cuốn sách,
chúng tôi được ông cho biết: theo ông, đa phần
những thông tin trong bài báo có thể coi là trung thực.
Cũng theo lời ông, cách đây vài ba năm, dường
như có người c̣n gặp thủ phạm hạ sát
Tạ Thu Thâu ở Việt Nam.
Chúng
tôi xin dẫn nguyên văn bài báo để bạn đọc
tham khảo:
“Ai đi ngang Quảng Ngăi vào khoảng
tháng 9 năm 1945, cũng biết đến không khí hăi hùng
của cái thành phố tự cho ḿnh có tinh thần cách
mạng cao ấy.Các tín đồ Cao Đài, các nhà trí
thức, các nhà phú hộ, các nhà cách mạng quốc gia,
tất cả những hạng người ấy cùng
với vợ, con, anh em họ được Việt Minh
cẩn thận chém giết, chôn sống, thiêu cháy, mổ
bụng v.v... mỗi ngày theo chính sách “Tru di tam tộc
để trừ hậu họa”. Người chết
nhiều đến nỗi độ ấy ở Hà
Nội, tờ báo “Gió mới” của Tổng hội sinh
viên, một tờ báo rất thiên Việt Minh đă phải
lên tiếng rằng ở Quảng Ngăi, ngày ngày đầu
người rụng như sung.
Anh Lê Xán, bạn tôi, một đồ
đệ của cụ Phan Bội Châu, bị Pháp đày
Lao Bảo, vừa được thả ra th́ bị
Việt Minh Quảng Ngăi bắt lại. V́ sự t́nh cờ
của chiếc xe lửa ngừng lại nghỉ đêm
ở Quảng Ngăi (độ ấy đường xe
lửa Sài G̣n - Hà Nội bị hư nhiều nơi, xe
lửa chạy rất chậm và hay nghỉ dọc
đường) nên bắt buộc tôi phải xuống xe
định kiếm một quán trọ ở cạnh ga mà
nghỉ đêm. Trong lúc ngồi uống nước, sực
nhớ đến Lê Xán, tôi ṭ ṃ hỏi bà chủ quán tin
tức về bạn tôi. Lập tức tôi bị một
trinh sát viên mặc áo nâu, đi chân không, đang đứng
vớ vẩn ở cửa tóm lấy buộc tôi là
đồng lơa với tội nhân và điệu tôi về
Sở Công an. Bị giam ở Sở Công an hai hôm, nhốt
trong một xà-lim cũ của Pháp, tôi ḍ hỏi th́
được biết tin bạn tôi đă bị xử
tử rồi. Nhưng tôi cũng lại biết thêm
rằng người ta buộc tôi về tội định
đến Quảng Ngăi giải vây cho Lê Xán và ngày hôm ấy
tôi bị mang đi để giam ở một nơi xa...
Tôi đang lo sợ một nơi xa
ấy là cơi âm ti th́ chiếc xe ngựa chở tôi và một
người lính gác, tay cầm một con dao dài, một
quả lựu đạn buộc ṭng teng vào giây nịt
bằng một sợi lạt, từ từ rẽ vào con
đường đi về Phú Thọ. Tôi hết lo bị
chém liền v́ tôi biết rằng ở làng Phú Thọ,
Ủy ban vừa dựng một nhà lao to để chứa
cho đủ tội nhân xa thành phố sợ có chuyện
bất trắc chăng. Nhưng tôi lại sợ quả
lựu đạn đứt giây buộc nên cứ xem hoài.
Nhà lao Phú Thọ xây trên một
khoảng đất rộng, trong cùng là một nhà ngang, hai
bên hai dăy nhà dọc, giữa sân trường một cột
cờ. Mỗi sáng, mỗi chiều đều có tu-huưt
thổi để chào cờ, và lính cũng như phạm
nhân đều phải đứng dậy, nắm tay
phải đưa lên ngang đầu, sẵn sàng hễ ông
sếp lao hô ViệtNam Dân chủ Cộng ḥa! th́ tất
cả đồng hô: Muôn năm! và Hồ Chí Minh!, th́
tất cả Muôn năm!
Pḥng giam tôi vuông vức mỗi bề
độ hai thước và cùng giam chung với tôi c̣n có
mười sáu người nữa. Tứ bề bít kín,
chỉ có một cái cửa để thông với ngoài,
nhưng song cửa lại làm bằng mấy cây gỗ lim
to quá, gần như khít với nhau, nên khó thở vô cùng.
Trong những bạn đồng cảnh ngộ với tôi,
tôi c̣n nhớ có tên Bùi Trọng Lệ trước làm
mật thám cho Pháp (sau này y bị xử tám năm tù), và ba
người con trai của Tổng đốc Nguyễn Hy.
Ba người này bị bắt v́ tội trong thời
kỳ cách mạng toàn dân mà trong nhà chứa đờn và bài
ca ủy mị, và đă bị xử tử một
tuần lễ sau khi tôi đến.
Một buổi sáng, tôi đang
đứng dựa vào cửa cố thiu thiu ngủ th́
bỗng giật ḿnh v́ những tiếng các bạn tôi kêu
lên: Tạ Thu Thâu! Tạ Thu Thâu! Tôi tỉnh hẳn
người. Tạ Thu Thâu? Trời ơi! Trong bao lâu, khi tôi
c̣n đi học, tôi đă nghe đến tên Người,
đă bị mê hoặc v́ cái oai hùng của đời
Người, dệt toàn bằng tranh đấu, hy sinh và
đau khổ. Dưới thời Pháp thuộc, trong lúc các
nhà cách mạng khác trốn ở hải ngoại th́ Tạ
Thu Thâu dám về trong nước hoạt động chánh
trị ngay trong nước và chịu tù, chịu tội.
Cái tên Tạ Thu Thâu tự bao nhiêu lâu và ngay cả
đến bây giờ, luôn luôn gợi ra trong óc tôi h́nh
ảnh của một người ngang tàng khí phách, coi
sự tù tội, sự h́nh phạt về xác thịt
như một sứ mệnh thiêng liêng mà Người
phải riêng chịu đựng lấy, để giải
thoát cho đồng bào. Trên đời mỗi khi thất
bại v́ một bất trắc ǵ, tôi thường hay
nghĩ tới Người để t́m nguồn an ủi
và lư do phấn khởi cho ḷng ḿnh.
Các bạn tù của tôi tranh nhau nh́n qua
cửa. Từ một pḥng giam phía bên kia sân, độ
bảy, tám người dân quân mang súng, gươm, lựu
đạn và ông chủ tịch làng - vừa là sếp lao
th́ phải - kéo ra một người đàn ông ốm
lỏng khỏng mà tôi nh́n ra ngay là ông Tạ Thu Thâu. Ông
mặc một sơ-mi cụt tay có hai túi trên ngực,
một cái quần Tây dài, chân đi giày vàng. Áo quần
trắng đă bàu nhàu và bẩn thỉu, dây do những
vết đen đỏ c̣n đọng, dấu tích của
những sự tra tấn vừa qua.
Râu tóc của ông Thâu rối beng,
mặt mày hốc hác, nhưng cặp mắt vẫn b́nh
tĩnh nh́n mọi người, mọi vật - không
biết tôi có lầm chăng - miệng ông hơi nhếch
một nụ cười.
Các bạn tôi lao xao:
– Lần này th́ Tạ Thu Thâu phải
chết.
Một người nào đó nói
nhỏ:
– Quân khốn nạn!
Tôi gián một con mắt vào khoảng
hở giữa hai song cửa, hai tay muốn tét ra cho
rộng để nh́n cho rơ đám người hùng hổ
đi với ông chủ tịch luôn mồm la hét, nạt
người này, cho lệnh kẻ kia và ở giữa,
một bóng trắng chập choạng, khập khiễng
đi đi... để biến sau mộr rặng cây mà
ở đó tôi biết có một khoảnh đất
trống gọi là pháp trường.
Tôi bàng hoàng quá đỗi, không c̣n
biết ḿnh tỉnh hay mê. Tôi biết Tạ Thu Thâu bị
Pháp bắt vừa mới ở tù ra, thân thể bị tiêm
thuốc cho chết xuội đi một bên, nếu không có
Chánh phủ Trần Trọng Kim th́ ông đă chết trong
khám rồi. Một người như Người suốt
đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam, bị tật
nguyền v́ dân tộc Việt Nam, th́ c̣n có thể phạm
tội ǵ với quốc gia mà đến nỗi khi
Việt Nam vừa mới có ít chủ quyền th́ dân
Việt Nam liền bắt bớ, đọa đày và
xử tử.
Các bạn tôi nói là Tạ Thu Thâu bị
buộc về tội phản cách mạng và âm mưu
lật đổ chánh quyền, nhưng tra tấn bao nhiêu
ông ta cũng đếch thèm khai. Bùi Trọng Lệ,
đứng cạnh tôi, nói một cách nghiêm nghị quá
đến nỗi tôi không cho là một lời mỉa mai:
– Tội Tạ Thu Thâu nặng hơn
nữa nhiều. Ông phạm cái tội rất lớn là
được dân chúng thương yêu.
Nhưng anh lính gác trước cửa
pḥng chúng tôi (không hiểu v́ sao anh ta lại có cảm t́nh
với tôi và thường hay nói chuyện cùng tôi) anh ta
lại nói khác. Theo anh ta th́ Ủy ban tỉnh Quảng Ngăi cũng
không biết ông Tạ Thu Thâu bị bắt v́ tội ǵ.
Chỉ được điện tín của Trần
Văn Giầu đánh ra cho các tỉnh, ra lệnh hễ ai
gặp Tạ Thu Thâu th́ bắt lại. Sau khi Ủy ban
tỉnh đánh điện cho Sài G̣n biết là ḿnh đă
bắt và giam Tạ Thu Thâu th́ liền được
lệnh trả lời là phải giết ngay lập
tức. Nhưng khi đem ra pháp trường th́ ông Tạ
Thu Thâu diễn thuyết cho mấy người lính, ông nói
hay quá với lại đúng quá nên ai nấy đều
bỏ súng buông lơ, có anh khóc, không ai dám bắn. Nên lại
đem ông về lao và Ủy ban lại đánh giây thép vào Sài
G̣n hỏi nữa sợ có giết lầm chăng. Và đă
hai lần như thế rồi, Trần Văn Giầu
đánh giây thép ra biểu phải giết, Tạ Thu Thâu
đứng trước mũi súng lại diễn
thuyết kêu gọi một mảy may lương tâm c̣n sót
lại của đám người chỉ biết có vâng
lệnh trên, rồi không ai nỡ bắn. Không dám bắn th́
đúng hơn, rồi lại mang về, rồi lại
đem đi.
– Hôm nay th́ chắc Tạ Thu Thâu
phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng
bảo thế, v́ vừa được lệnh riêng
của Cụ Hồ ở Hà Nội điện vô khiển
trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh.
Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt
xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong
cái im lặng rợn người, một tiếng đoành.
Bỗng người lính gác kêu lên:
– Châu cha! Tạ Thu Thâu lại về!
Tất cả đều nhao nhao.
Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người
đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái.
Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy
cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững
chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng
thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn.
Sự sung sướng của tôi không
được lâu. Đám người đi vừa
đến gần cổng lao th́ một người trai
trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ
học tṛ, tuổi lối mười bảy, mười
tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng
nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào
vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
– Đồ Việt gian phản
động!
Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào
bụng cho ngă quay ra đất, đoạn đấm,
đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể
lại th́ xem ra lâu quá. Thêm chỗ tôi đứng và chỗ
tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau,
mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy
được tường tận. Tôi chỉ c̣n nhớ
h́nh ảnh của một đám người bao quanh
một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng
máu. Và từ đó, một giọng the thé rất trong của
người thiếu niên vang lên:
– Các đồng chí hèn quá, một
thằng Việt gian cũng không dám giết!
Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đă
trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không
thấy trước mắt cái bóng người quằn
quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy.
Viết bài này tôi chỉ mong làm tṛn
một bổn phận với Người mà tuy rằng
không cùng một quan niệm chánh trị với tôi, tôi
vẫn phụng thờ ư chí hy sinh và tâm hồn cao quí.
Những kẻ khốn nạn đă v́ đảng phái mà ám
sát Người cũng như bao nhiêu kẻ xấu số
khác, rồi đây khi ḥa b́nh trở lại Việt Nam,
họ sẽ ra trước ṭa án quốc dân mà đền
tội ác của họ. Chỉ lúc đó thù của Tạ
Thu Thâu, quốc dân Việt Nam mới trả
được.”
Tṛn
nửa thế kỷ kể từ ngày bài báo nói trên ra
đời, dường như “quốc dân Việt Nam”
vẫn chưa đáp ứng được nguyện
vọng tha thiết của người viết bài báo trên,
là “trả được cái thù của Tạ Thu Thâu”:
đưa những thủ phạm trực tiếp và gián
tiếp ra trước ṭa án quốc dân.
Ở
vào thời điểm mà “ḥa giải ḥa hợp” đang là
một khẩu hiệu được nhiều
người tán thưởng, nhắc lại sự thực
của một số sự kiện lịch sử xảy
ra đă lâu cũng chỉ nhằm mục đích gột
rửa những nhơ nhớp trong quá khứ, phục
hồi danh dự cho những người ái quốc đă
bị thảm sát oan uổng. “Sự thật, chỉ nói
sự thật!”, khẩu hiệu rất hay được
nhắc đến trong thời cải tổ ở Liên Xô
mươi năm trước đây, có thể là một
“phép màu” cho một nước Việt Nam tự do, dân
chủ trước thiên niên kỷ thứ ba này.
Người viết xin cám ơn các thành viên của nhóm
Đệ tứ Việt Nam ở Pháp đă cho phép sử
dụng một số tư liệu, công tŕnh nghiên cứu
của nhóm.
(Những
ngày đầu Xuân 1999)
Ghi Chú:
1.
Tức Lịch sử đảng Cộng sản Việt
Nam, xuất bản lần đầu năm 1946, cuốn
sách “gối đầu giường”, “cẩm nang” của
mọi đảng viên cộng sản Việt Nam.
2.
Cũng trong năm 1989, hơn 100 nhân sĩ nổi tiếng
ở Pháp và thế giới đă đồng kư tên trong
một bản kêu gọi phục hồi danh dự và nhân
phẩm cho Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông
như Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Huỳnh
Văn Phương...
3.
Về vấn đề này, có thể tham khảo hai
cuốn sách của nhà văn, nhà nghiên cứu sử học
người Nga Edvard Radzinsky: Nga hoàng cuối cùng (Cuộc
sống và cái chết của Nicholas Đệ nhị) và
Stalin.
4.
Nh́n lại chặng đường đấu tranh của
đảng chống bọn trốt-kít phản động
- Thế Tập (Tạp chí Cộng sản số 2-1983).
5.
Tủ sách Nghiên cứu (Paris) ấn hành năm 1993.
6.
Ông Trần Văn Ân, một người quốc gia,
cũng cho rằng “Trần Văn Giàu là chánh phạm” trong
vụ ám hại Tạ Thu Thâu. Xin xem bài Nói chuyện
với cụ Trần Văn Ân mùa xuân 1993, bác sĩ
Nguyễn Hoài Vân ghi lại.
7.
Trong hồi kư chính trị Việt Nam máu lửa quê
hương tôi (Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn
hành năm 1993), tướng Hoàng Linh Đỗ Mậu
cũng cho rằng “lănh tụ Đệ tứ Quốc
tế, ông Tạ Thu Thâu, bị Hồ Chí Minh âm mưu sắp
đặt cho dân quân Quảng Ngăi giết trên
đường vào Nam”.
8.
Của Tân Trào, đăng ngày 23-10-1945, hiện lưu
trữ tại Vụ lưu trữ Văn pḥng Trung
ương đảng Cộng sản Việt Nam.
9.
Lúc đó, ông Hồ Chí Minh là người đứng
đầu phái đoàn chính phủ Việt Nam ở Pháp.
10.
Chi tiết này được đăng trong cuốn Au
Service Des Colonisés 1930 - 1953, Nhà xuất bản Editions de Minuit,
Paris 1954.
11.
Gần đây nhất, trong một bài viết có tựa
đề Những nhân chứng cuối cùng, tác
giả Trần Ngươn Phiêu cho biết: “... khi ông Thâu
chết, đă có kư giả hỏi ông Hồ Chí Minh ở Hà
Nội về việc này th́ ông có trả lời là
địa phương đă giết lầm một
người ái quốc”.
12.
Nguyên tác Pháp ngữ: Vietnam 1920 - 1945 (Révolution et contre-révolution
sous la domination coloniale.
13.
Trích phần phụ lục của cuốn sách trên
(Những mẩu đời - Tiểu sử của một
số nhà cách mạng Việt Nam), bản Việt ngữ
(chưa ấn hành).
14.
Tủ sách Nghiên cứu xuất bản năm 1997.
Nguồn: tusachnghiencuu.org